Trang chủ Tin Sức khỏe Định hướng hoàn thiện chính sách hỗ trợ xã hội cho người bán dâm

Định hướng hoàn thiện chính sách hỗ trợ xã hội cho người bán dâm

by Security
0 Bình luận

Tóm tắt. Mại dâm là vấn đề xã hội, hoạt động mại dâm là bất hợp pháp ở Việt Nam. Do vậy, quan điểm lấy công tác phòng ngừa làm trọng tâm luôn được duy trì, bên cạnh đó các hoạt động nhằm giảm thiểu tác hại của hoạt động mại dâm đối với đời sống xã hội; giảm tội phạm liên quan đến mại dâm được thực hiện hướng đến đảm bảo quyền con người của người bán dâm, bảo đảm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng các dịch vụ xã hội của người bán dâm và khuyến khích sự tham gia của các đối tác xã hội. Bài viết tổng quan lại các quan điểm về mại dâm ở Việt Nam, những chính sách hỗ trợ người bán dâm trong thời gian qua, và những định hướng hoàn thiện chính sách hỗ trợ xã hội đối với người bán dâm.

Từ khóa: An sinh xã hội, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm; chính sách tín dụng ưu đãi; chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe; người bán dâm.

1. Đặt vấn đề

Mại dâm là vấn đề xã hội đã tồn tại suốt chiều dài lịch sử phát triển nhân loại và hoạt động dưới nhiều loại hình, phương thức khác nhau. Hoạt động mại dâm không tồn tại ở riêng một quốc gia, khu vực nào mà tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tính đến cuối năm 2015, Việt Nam có 11.240 người người bán dâm, trong đó tập trung nhiều ở một số khu vực như: Đồng bằng sông Hồng (3.673 người); Đông Nam Bộ (3.200 người); Đồng bằng Sông Cửu Long (1.374 người),… Tuy nhiên, con số thực tế có thể cao hơn rất nhiều do đây là hoạt động rất khó kiểm soát bởi tính phức tạp, tinh vi và trá hình của nó[1].

Mặc dù hoạt động mại dâm là bất hợp pháp ở Việt Nam nhưng nhằm thực hiện các can thiệp giảm tác hại, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng nhiều chính sách phúc lợi xã hội để hỗ trợ người bán dâm tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo quyền và hòa nhập cộng đồng. Các chính sách hỗ trợ xã hội cho người bán dâm hiện nay chủ yếu tập trung vào các chính sách hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khỏe, phòng chống các bệnh lây nhiễm, bệnh xã hội; hỗ trợ học nghề tạo sinh kế; hướng dẫn về trợ giúp pháp lý, phòng chống bạo lực… Các chính sách hỗ trợ xã hội này có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự yếu thế và bất bình đẳng, có thể giúp người bán dâm hòa nhập xã hội, từ đó dừng hoặc giảm việc tham gia bán dâm đồng thời giúp họ được đảm bảo sức khỏe, được khẳng định quyền con người và tham gia vào các hoạt động cộng đồng, xã hội cũng như thị trường lao động.

Tuy nhiên việc tiếp cận chính sách hỗ trợ xã hội đối với nhiều người bán dâm là rất khó khăn do nhiều rào cản khác nhau như: thiếu thông tin, sự hiểu biết về chính sách; tâm lý tự ti, mặc cảm; thủ tục hành chính phức tạp… làm cho hiệu quả hoạt động của các chính sách hỗ trợ xã hội chưa cao.

2. Quan điểm về mại dâm ở Việt Nam

Hoạt động mại dâm là bất hợp pháp do đó Đảng và Nhà nước đã có những biện pháp mạnh can thiệp nhằm tăng cường công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm. Mặc dù chủ trương của Nhà nước ta không chính thức hóa hoạt động mại dâm nhưng Chính phủ đã ban hành và triển khai thực hiện các chương trình can thiệp hỗ trợ đối với nhóm người bán dâm trong từng thời kỳ cụ thể, phù hợp điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Giai đoạn từ 2003 đến tháng 5/2011, việc quản lý người bán dâm được áp dụng theo biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh để điều trị và phục hồi nhân phẩm theo quy định tại Nghị định số 135/2004/NĐ-CP. Trong thời gian chữa bệnh và phục hồi nhân phẩm ở Trung tâm, người bán dâm được trợ cấp về y tế, học nghề, học văn hoá, mua sắm vật dụng cá nhân cần thiết và tham gia lao động được hưởng tiền công lao động theo định mức lao động cùng kết quả công việc hoàn thành khi tham gia lao động.

Giai đoạn từ 2012-nay: Nhằm phát huy quyền con người cũng như tăng cường vai trò của gia đình, cộng đồng trong công tác phòng, chống mại dâm, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2012/QH13 về việc thi hành luật xử lý vi phạm hành chính trong đó có quy định về phương thức quản lý mới đối với người bán dâm “Không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm. Người có hành vi bán dâm bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật” (Khoản 1 Điều 2). Nghị định này đã đánh dấu bước chuyển đổi trong quan điểm của Nhà nước ta về công tác quản lý người bán dâm của Việt Nam phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển đất nước.

Do đó, các chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011 – 2015 được xây dựng trên quan điểm phòng ngừa làm trọng tâm, tập trung giải quyết tệ nạn mại dâm tại những tỉnh, địa bàn trọng điểm. Tập trung vào biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, lối sống của cá nhân, gia đình, cộng đồng, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội, phòng ngừa từ xa; tăng cường lồng ghép với các chương trình an sinh xã hội; chú trọng đến các hoạt động trợ giúp người bán dâm là phụ nữ, trẻ em trong tiếp cận với các dịch vụ xã hội (giáo dục, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe, thay đổi công việc…) tại cộng đồng; tăng cường các giải pháp hỗ trợ tại gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc sức khỏe, phòng, chống lây nhiễm HIV, tạo cho họ các cơ hội thay đổi cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng xã hội.

Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2016-2020 tiếp tục duy trì quan điểm lấy phòng ngừa làm trọng tâm như giai đoạn 2011-2015, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội trong công tác phòng, chống mại dâm; giảm thiểu tác hại của hoạt động mại dâm đối với đời sống xã hội; giảm tội phạm liên quan đến mại dâm. Điểm mới trong công tác phòng chống mại dâm giai đoạn này là hướng đến đảm bảo quyền con người của người bán dâm, bảo đảm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng các dịch vụ xã hội của người bán dâm và khuyến khích sự tham gia của các đối tác xã hội.

3. Chính sách hỗ trợ xã hội đối với người bán dâm

Các chính sách hỗ trợ xã hội đối với người bán dâm ở Việt Nam có sự vận động và thay đổi phù hợp với quan điểm về mại dâm, bối cảnh kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

* Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm

Đối với nhóm người bán dâm, chương trình hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm được chia theo 2 giai đoạn (tính từ khi ban hành Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003) như sau:

Giai đoạn 2003-2011: Cùng với việc quản lý người bán dâm tại các cơ sở chữa bệnh (còn gọi là Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục lao động – xã hội), công tác trợ giúp người bán dâm về đào tạo nghề và tạo việc làm chủ yếu được thực hiện tại các Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục lao động – xã hội. Các Trung tâm đã tổ chức dạy nghề kết hợp với lao động sản xuất phù hợp với khả năng của người bán dâm, giúp cho họ cải thiện sinh hoạt hàng ngày và nâng cao năng lực tái hoà nhập cộng đồng.

Từ năm 2012 đến nay: Do thay đổi phương về việc quản lý người bán dâm từ việc quản lý người bán dâm tại các cơ sở chữa bệnh sang xử phạt hành chính theo quy định nên chưa có các quy định cụ thể và riêng biệt liên quan đến hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm cho người bán dâm. Các chương trình, chính sáchnày được xây dựng theo chủ trương lồng ghép với các chương trình, chính sách chung về đào tạo nghề và tạo việc làm, không phân biệt đối tượng là người bán dâm hay không. Cụ thể, lồng ghép với Chương trình hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”; Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012-2015 theo Quyết định số 1201/QĐ-TTg ngày 31/8/2012… được thực hiện qua các Trung tâm dịch vụ Việc làm. Chính vì vậy, người bán dâm nếu có nhu cầu được hỗ trợ dạy nghề hoặc giới thiệu việc làm đều được hỗ trợ theo các chính sách chung.

Các tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ và một số tổ chức khác cũng có một số chương trình hỗ trợ dạy nghề và giới thiệu việc làm cho người bán dâm nhưng ở quy mô nhỏ lẻ và chỉ tập trung ở một số thành phố lớn như Hồ Chí Minh (hỗ trợ đào tạo nghề tóc của Công ty Lo’real).

* Chính sách tín dụng ưu đãi

Nhằm đảm bảo sinh kế cho người bán dâm đã hoàn lương cũng như gia đình họ, ngày 26/4/2014 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg về tín dụng đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Chính sách xã hội đã xây dựng hướng dẫn số 3337/NHCS-TDSV ngày 30/9/2014 về nghiệp vụ cho vay đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương theo Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg.Giai đoạn 2014-2016 là thời gian thực hiện thí điểm Quyết định này trên phạm vi 15 tỉnh/thành phố.

Tuy nhiên, việc thực hiện Quyết định số 29 đang là một vấn đề nan giải đối với các địa phương khi Quyết định chuẩn bị đi vào kết thúc giai đoạn triển khai thí điểm 15 tỉnh/thành phố, song hầu hết các tỉnh còn nhiều khó khăn, lúng túng trong việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến giải ngân tín dụng ưu đãi cho người bán dâm hoàn lương. Do đó việc thực hiện Quyết định này đang bị chậm so với kế hoạch đề ra. Một số nguyên nhân chủ yếu là do: (1) Bản thân người bán dâm còn khá tự ti, mặc cảm với công việc của mình. Sự kỳ thị xã hội đã tạo áp lực đối với họ, khiến họ phải giấu diếm công việc hành nghề. Do đó, việc tự thừa nhận mình là người bán dâm hoàn lương là việc làm rất khó khăn. (2) Ràocản đến từ phía các cơ quan chịu trách nhiệm xác nhận việc hoàn lương của người bán dâm cụ thể là chính quyền địa phương nơi người bán dâm đăng ký hộ khẩu thường trú. Việc xác định một đối tượng là người bán dâm đã hoàn lương hay chưa tương đối khó khăn đối với chính quyền địa phương cấp xã do tính di biến động của nhóm đối tượng này rất cao, chủ yếu hoạt động và hành nghề ở nơi khác do đó khó khăn trong việc xác minh nhân thân cho đối tượng. (3) Khó khăn xuất phát từ điều kiệnCư trú hợp pháp và sinh sống ổn định tại địa phương nơi vay vốn” do rất khó xác minh điều kiện cư trú của nhóm người bán dâm và bản thân người bán dâm cũng không đáp ứng được điều kiện này bởi phần lớn họ có xu hướng di biến động và hoạt động tại nhiều nơi khác nhau, các tỉnh/thành khác mà không hoạt động ngay tại nơi cư trú. Hơn nữa, chính quyền địa phương tại nơi người đăng ký hộ khẩu thường trú của người bán dâm cũng không nắm bắt được chính xác công việc người đó làm ở địa phương khác.

Các yếu tố này là một trong số các nguyên nhân chính dẫn đến việc triển khai Quyết định 29 gặp nhiều khó khăn và đến nay chưa có tỉnh/thành phố nào (15 tỉnh thành thực hiện thí điểm) thực hiện giải ngân chính sách tín dụng ưu đãi đối với người bán dâm đã hoàn lương.

Bên cạnh Quyết định 29, một số địa phương đã chủ động xây dựng các chương trình hỗ trợ vay vốn cho người bán dâm nhưng quy mô và hạn mức vay hạn hẹp như Hồ Chí Minh, Quảng Ninh… (Chi cục Phòng, chống TNXH là đơn vi chủ trì, kinh phí từ nguồn ngân sách của tỉnh) với mức vay 2-5 triệu/người với thời hạn vay 1 năm. Tuy nhiên, đa số người bán dâm không thể trả nợ đúng hạn hoặc không có khả năng trả nợ do nhiều nguyên nhân khác nhau[2]. Ngoài ra, thủ tục hành chính và quyết toán cũng là vấn đề gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động giải ngân của các Chương trình này tại các địa phương khi quy định nguồn vốn vay phải được chuyển đổi thành hiện vật cho đối tượng vay dưới hình thức chuyển khoản cho đơn vị trung gian cung cấp hiện vật.

Ngoài chương trình tín dụng ưu đãi giành riêng cho người bán dâm theo Quyết định 29, Chính phủ cũng có các chính sách tín dụng ưu đãi khác giành cho các nhóm đối tượng khác nhau và người bán dâm nếu thuộc một trong số các đối tượng đó cũng được hỗ trợ vay ưu đãi như Chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ tại các vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.

* Chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ

Hướng đến mục tiêu phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro đối với những người hành nghề bán dâm cũng như thực hiện chương trình hành động phòng, chống mại dâm, Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quyết định số 679/QĐ-TTg ngày 10/5/2011về chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011-2015.Trên cơ sở đó đã hỗ trợ, cung cấp dịch vụ trợ giúp về y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhóm người bán dâm nhằm can thiệp dự phòng, khám và điều trị HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, giảm các tổn thương trong quá trình hành nghề mại dâm.

Bên cạnh đó, nhằm phát huy vai trò và sự tham gia của đối tác xã hội, cộng đồng trong công tác phòng, chống mại dâm, các tỉnh/thành phố đã huy động ngân sách của địa phương và hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế để phát triển rộng các hoạt động hỗ trợ can thiệp chăm sóc cho các nhóm nguy cơ cao như người bán dâm, tiêm chích ma túy… thông qua mạng lưới câu lạc bộ/nhóm đồng đẳng: Truyền thông phòng, chống HIV/AIDS; Phân phát các vật phẩm giảm tác hại như bao cao su, bơm kim tiêm; Chuyển gửi người bán dâm đến sử dụng các dịch vụ điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục, dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV và điều trị miễn phí bằng ARV,… Có thể nói đâylà một trong những chính sách quan trọng, nhận được sự quan tâm của không chỉ Chính phủ nhằm can thiệp, phòng ngừa và giảm hại mà còn nhận được nhiều sự quan tâm của bản thân người bán dâm để bảo vệ sức khỏe của chính mình cũng như người khác.

Tuy nhiên, hiện nay chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với người bán dâm mởi chỉ tập trung được vào các nhóm như: người bán dâm tham gia sinh hoạt tại các câu lạc bộ/ nhóm đồng đẳng; người bán dâm có hồ sơ quản lý; người bán dâm được các cộng tác viên chương trình tiếp cận và giới thiệu dịch vụ; người bán dâm được bạn cùng hành nghề đã từng nhận dịch vụ hỗ trợ giới thiệu[3]. Phần lớn các nhóm người bán dâm khác như: hành nghề tại các cơ sở, nhà hàng, karaoke, massage… chưa tiếp cận được với các chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe này.

* Chính sách trợ giúp pháp lý

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý.

Do có sự thay đổi lớn trong quan điểm về quản lý đối tượng là người bán dâm do đó nhu cầu cần được trợ giúp pháp lý của người bán dâm khá cao[4].Đây cũng là một trong những nhu cầu chính đáng để người bán dâm nắm bắt được các thông tin cần thiết liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ.

Đối tượng của Luật trợ giúp pháp lý ngày càng được mở rộng, đáp ứng nhu cầu nắm bắt thông tin của người dân, cộng đồng. Theo Điều 10, Luật Trợ giúp pháp lý 2006, chỉ có “người nghèo; người có công với cách mạng; người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn” mới được trợ giúp pháp lý. Điều này vô hình chung đã giới hạn pháp vi đối tượng hưởng lợi của Luật định do vậy hạn chế khả năng tiếp cận chính sách của người bán dâm trong trường hợp cần được trợ giúp pháp lý về các quyền và nghĩa vụ của bản thân.

Tuy nhiên, năm 2017 Quốc hội đã ban hành Luật số 11/2017/QH14 về Trợ giúp pháp lý. Theo đó, đối tượng hưởng lợi từ Luật này đã tằng từ 03 nhóm lên đến 07 nhóm. Các nhóm đối tượng của Luật này bao gồm:

1. Người có công với cách mạng.

2. Người thuộc hộ nghèo.

3. Trẻ em.

4. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

5. Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

6. Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.

7. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính:

a) Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;

b) Người nhiễm chất độc da cam;

c) Người cao tuổi;

d) Người khuyết tật;

đ) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự;

e) Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình;

g) Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;

h) Người nhiễm HIV.

Có thể thấy, các nhóm đối tượng thuộc điểm g,h của khoản 7 điều 7 tương đối liên quan đến nhóm người bán dâm. Đây cũng là cơ hội để người bán dâm có thể tiếp cận được tốt hơn khi có nhu cầu được hỗ trợ thông tin pháp lý. Tuy nhiên, khoản 1, Điều 9 Luật này yêu cầu “Cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý”. Đây có thể coi là một trong những khó khăn đối với người bán dâm khi có nhu cầu nắm bắt thông tin pháp luật.

3. Định hướng hoàn thiện chính sách hỗ trợ xã hội đối với người bán dâm

v Nhận định chung

Đối với chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm

Bản thân nhiều người bán dâm chưa chủ động nắm bắt thông tin về các chương trình đào tạo nghề cũng như tạo việc làm hoặc biết thông tin nhưng mặc cảm không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng hoặc do ngại làm các thủ tục hành chính[5]. Chính vì vậy, hầu hết người bán dâm không đến tham dự Hội chợ việc làm hàng tháng ở các địa phương để tìm hiểu về các cơ hội việc làm của mình.

Việc lựa chọn nghề đào tạo và việc làm sau đào tạo nghề đối với người bán dâm cũng là một khó khăn, thách thức, nhất là với những người lớn tuổi vì không đáp ứng được yêu cầu về sức khoẻ, kỹ năng trong công việc. Trong khi đó, với người trẻ tuổi lại khó thu hút được sự tham gia của họ bởi yêu cầu về thời gian tham gia học nghề, thu nhập từ việc làm mới cũng chưa chắc sẽ đảm bảo cao hơn so với công việc hiện tại của họ.

Hiện chưa có chính sách pháp luật về dạy nghề và tạo việc làm cụ thể, dành riêng cho đối tượng người bán dâm tại cộng đồng do đó cần nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghề giành riêng cho người bán dâm. Nghề được đưa vào chương trình đào tạo phải phù hợp với đặc điểm đối tượng về nhu cầu, sức khỏe và kỹ năng; hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề và giới thiệu việc làm để họ yên tâm theo học cũng như đảm bảo đầu ra về việc làm cho họ. Bên cạnh đó, tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng, thông tin về các chương trình đào tạo nghề cũng như giới thiệu việc làm đến với người bán dâm.

– Đối với chính sách hỗ trợ vay vốn:

Đa số người bán dâm gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay chủ yếu do thủ tục hồ sơ và điều kiện xét duyệt phức và mức vay không phù hợp, không đủ để họ có thể đầu tư tạo vệc làm có thu nhập ổn định, lâu dài và có khả năng giúp họ từ bỏ được hành nghề mại dâm[6].

Theo quy định của Ngân hàng Chính sách xã hội, người bám dâm cần cung cấp văn bản có xác nhận về việc không còn bán dâm[7] của Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã hoặc của người đứng đầu một trong các tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương, hoặc của Chủ nhiệm Câu lạc bộ, trưởng nhóm, trưởng mạng lưới do các tổ chức chính trị – xã hội hoặc tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân thành lập. Trong thực tế, người bán dâm rất khó lấy được xác nhận từ các tổ chức/chính quyền theo quy định bởi lý do không có bằng chứng cụ thể để các đơn vị có thể xác nhận là người làm đơn thực sự không còn tham gia bán dâm. Bên cạnh đó, các Câu lạc bộ, trưởng nhóm, trưởng mạng lưới do các tổ chức chính trị – xã hội hoặc tổ chức xã hội thành lậpkhông có đủ tư cách pháp nhân để xác nhận vào mẫu xác nhận người bán dâm hoàn lương.

Chính vì vậy, trong giai đoạn tiếp theo cần xem xét lại về các thủ tục giải ngân, vay vốn ưu đãi để chính sách này có thể áp dụng được tốt hơn trong thực tiễn. Điều này có nghĩa là các thủ tục hành chính, điều kiện cho vay cần linh hoạt hơn, để người bán dâm có thể đáp ứng được các điều kiện hỗ trợ.

Đối với chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe:

Do có sự triển khai đồng bộ giữa các ngành đặc biệt là ngành Y tế và ngành Lao động, Công annên số người bán dâm có thể tiếp cận các chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe khá cao. Nguồn kinh phí cho các hoạt động liên quan đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe đều là nguồn liên quan đến hoạt động phòng chống lây nhiễm cho các nhóm nguy cơ của chương trình phòng chống HIV/AIDS, chưa có nguồn kinh phí riêng biệt cho người bán dâm. Tuy nhiên, phần lớn những người tiếp cận được đến với các dịch vụ y tế dự phòng và kiểm tra sức khỏe định kỳ là người bán dâm tham gia sinh hoạt tại các câu lạc bộ/ nhóm đồng đẳng; bán dâm có hồ sơ quản lý và người bán dâm hoạt động trên đường phố được các cộng tác viên chương trình tiếp cận và giới thiệu dịch vụ. Do đó, để chính sách hoạt động hiệu quả hơn, cần thu hút được hơn nữa sự tham gia của các cơ quan liên quan (thu hút ngân sách hỗ trợ) và các nhóm đối tượng người bán dâm khác nhau để tăng cường khả năng phòng ngừa nguy cơ bệnh tật, giảm thiểu các rủi ro sức khỏe cho xã hội và bản thân họ.

– Đối với chính sách hỗ trợ pháp lý

Mặc dù chưa có quy định cụ thể về chính sách hỗ trợ pháp lý cho người bán dâm nhưng các địa phương luôn chủ động trợ giúp cho họ khi có nhu cầu tư vấn, hỗ trợ pháp lý về nhân thân và các vấn đề liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống mại dâm. Đây cũng là một trong những biện pháp quan trọng để người bán dâm hiểu biết hơn về chính sách, pháp luật của Nhà nước qua đó tự bảo vệ quyền và lợi ích của chính bản thân mình.

Tuy nhiên, do tâm lý ngại tiếp xúc cũng như không muốn tiết lộ những hành động bạo lực của người mua dâm cũng như chưa am hiểu hết các quy định của pháp luật nên khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ pháp lý của người bán dâm còn thấp; phạm vi chủ yếu là người bán dâm hiện đang sinh hoạt tại các câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng mới có thể nắm bắt và được hỗ trợ thông tin pháp lý.

v Định hướng hoàn thiện chính sách hỗ trợ xã hội đối với người bán dâm

Trước yêu cầu thực tế của công tác phòng, chống mại dâm và bối cảnh kinh tế-xã hội trong những năm tới, định hướng nghiên cứu, xây dựng chính sách pháp luật về mại dâm ở Việt Nam đặt ra các ưu tiên: Tăng cường phòng ngừa; xây dựng khung pháp lý cho việc thực hiện các biện pháp can thiệp giảm hại trong phòng, chống mại dâm; phòng chống bạo lực trên cơ sở giới đối với nhóm người bán dâm. Đồng thời, xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội phù hợp, thân thiện, tạo điều kiện cho người bán dâm dễ dàng tiếp cận, sử dụng khi họ có nhu cầu thay đổi công việc, thay đổi cuộc sống.

Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lý về vấn đề mại dâm của Việt Nam hiện nay đã bộc lộ những điểm không phù hợp với thực tiễn; những quy định hiện hành không bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; thiếu cơ sở pháp lý cho việc triển khai các giải pháp, biện pháp, phương pháp tiếp cận mới trong công tác quản lý mại dâm; chưa cụ thể về điều kiện để đảm bảo thực hiện các biện pháp phòng ngừa mại dâm; chưa có các chính sách, quy định dịch vụ hỗ trợ phù hợp đối với người bán dâm khi họ có nhu cầu thay đổi công việc, thay đổi cuộc sống.

Chính vì vậy, yêu cầu xây dựng Luật Phòng, chống mại dâm là hết sức cần thiết, làm cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp, giải pháp về quản lý mại dâm cho phù hợp với thực tiễn hiện nay, góp phần bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, thực hiện tốt các chính sách về bảo trợ xã hội; bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan như phòng, chống mua bán người, phòng, chống ma túy và HIV/AIDS.

Do đó việc hoàn thiện chính sách, chương trình can thiệp và hỗ trợ xã hội đối với người bán dâm cần đảm bảo theo hướng:

– Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật theo hướng đảm bảo tôn trọng quyền con người, chú trọng các giải pháp mang tính xã hội nhằm giảm tác hại do hoạt động mại dâm gây ra đối với chính người mại dâm và xã hội, góp phần vào sự ổn định và phát triển đất nước. Tăng cường chỉ đạo, điều hành, giám sát trong thực thi các chính sách phòng, chống mại dâm và các chương trình hỗ trợ can thiệp.

– Thúc đẩy lồng ghép và triển khai các chính sách sẵn có về các dịch vụ trợ giúp dành cho người bán dâm trên cơ sở tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp và không kỳ thị, phân biệt đối xử với người bán dâm. Việc xây dựng một chính sách riêng biệt cho nhóm đối tượng đặc thù là điều khó khăn, song việc tận dụng và lồng ghép đối tượng trong những chương trình chính sách sẵn có là vô cùng cần thiết. Cụ thể:

+ Lồng ghép với chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn, chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, trong đó có thể bổ sung các hướng dẫn mở rộng cho đối tượng là người bán dâm muốn hoàn lương và có nhu cầu tìm kiếm việc làm theo mong muốn.

+ Lồng ghép chương trình tín dụng cho nhóm người bán dâm trong các Chương trình hỗ trợ vay vốn của Nhà nước giải ngân qua các Hiệp hội/đoàn thể ở địa phương như chương trình vay vốn của Thanh niên, Phụ nữ tại các cấp xã phường… Sớm ban hành hướng dẫn triển khai Quyết định 29/QĐ-TTg trên phạm vi toàn quốc theo hướng điều chỉnh điều kiện về thủ tục, hồ sơ đối với nhóm người bán dâm, đặc biệt là điều kiện về xác nhận đối tượng hưởng.

+ Lồng ghép các ưu đãi khám, chữa bệnh cho nhóm đối tượng này trong các Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm, bệnh xã hội. Hỗ trợ họ về điều kiện tham gia chương trình BHYT tự nguyện, không nên quy định phải bắt buộc mua BHYT theo hộ gia đình.

– Xây dựng cơ chế hỗ trợ về hành chính, đảm bảo an ninh con người nhằm giảm thiểu các nguy cơ từ khó khăn hành chính (các thủ tục hộ khẩuvà cư trú, kèm theo chứng minh thư nhân dân) cho nhóm đối tượng đặc thù là người bán dâm hoàn lương trên địa bàn cư trú. Nhóm đối tượng đặc thù là người bán dâm đa phần có điều kiện sống chưa được tốt, lại càng chưa đựợc an toàn và họ trở thành những cá thể hoặc gia đình dễ bị tổn thương nhất trong các cộng đồng dân cư.

– Triển khai thực hiện các Chương trình giảm nghèo bền vững thông qua hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm, vay vốn phát triển sản xuất… kết hợp truyền thông nâng cao nhận thức cho các đối tượng có nguy cơ, nhằm giảm thiểu các tác nhân dẫn đến hành nghề của người bán dâm.

– Xây dựng, thí điểm các mô hình trợ giúp tại cộng đồng, từng bước hình thành hệ thống dịch vụ hỗ trợ trọn gói (bao gồm các dịch vụ như: Chăm sóc y tế, hỗ trợ sinh kế, vay vốn, hướng nghiệp dạy nghề, tạo việc làm, trợ giúp pháp lý, can thiệp giảm tác hại, giảm HIV/AIDS, giảm bạo lực, đảm bảo quyền con người,…) nhằm tạo điều kiện cho người bán dâm cơ hội hòa nhập cộng đồng bền vững.

Ths Lê Ngự Bình

Ths Triệu Thị Phượng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chi cục PCTNXH TP Hồ Chí Minh, Báo cáo tham luận “Dịch vụ hỗ trợ pháp lý và tình hình bạo lực giới đối với phụ nữ bán dâm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”.

2. Luật trợ giúp pháp lý 2006, 2017.

3. Nghị định số 135/2004/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người thành niên, người tự nguyện vào cở sở chữa bệnh

4. Nghị quyết số 24/2012/QH13 về việc thi hành luật xử lý vi phạm hành chính

5. Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm ngày 17 tháng 3 năm 2003

6. Quyết định số 679/QĐ-TTg ngày 10/5/2011về chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011-2015

7. Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg về tín dụng đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma tuý, người điều trị nghiên các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương

8. Quyết định số 361/QĐ-TTg ngày 7/3/2016 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2016-2020

9. Viện Khoa học Lao động và Xã hội, (2017), Đánh giá tình hình tiếp cận dịch vụ hỗ trợ xã hội của người bán dâm.

You may also like

An toàn vệ sinh cho cuộc sống khỏe mạnh